• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3926675
  • Số người đang xem: 8
  • Trong ngày: 4073
  • Trong tuần: 13185
  • Trong tháng: 94432
  • Trong năm: 3574452
Trang chủ

Thành ngữ Hán – Việt mượn oai danh Hổ

( 16:32 | 24/02/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Hổ là thú khoẻ mạnh và hung dữ nhất, sống ở rừng rậm. Trong truyện cổ tích thì Hổ được tôn làm chúa tể của muôn loài trong chốn rừng xanh. Có rất nhiều tên gọi khác nhau dành cho nó: con Hùm cũng khá quen thuộc ở mọi miền; ở trung du, miền núi nhân dân còn gọi là con Cọp. Cuối năm Tết đến tối trời, người ta kiêng gọi tên thật của nó mà gọi là ông Ba Mươi. Khi trẻ em không ngoan hay hờn khóc, cần dỗ trẻ nín người ta đem con Hổ ra doạ nó lại gọi là con Ngoáo ộp... Chỉ cách đây vài chục năm mỗi khi vào rừng núi sâu xa huyện Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam người ta đều phải đề phòng sợ Hổ ăn thịt. Phương ngôn xứ Bắc có câu “ Cướp làng Rùm, hùm Mai Sưu” (Mai Sưu nay thuộc khu Tứ Sơn của huyện Lục Nam).

Ngày nay thì khác, trên rừng sâu núi thẳm cũng rất hiếm khi gặp hổ, muốn gặp nó chỉ đến vườn thú mới gặp được. Sở dĩ hiếm Hổ bởi nó là đối tượng săn lùng thô bạo nhất của cánh thợ săn. Bộ lông Hổ, vuốt hổ, răng hổ, xương hổ, râu hổ...cái gì của hổ cũng rất quý là lý do chính để người ta hại nó. Vuốt hổ dùng làm đồ trang sức. Răng thì được truyền tụng là chữa được chó dại cắn. Xương hổ đem nấu cao thì thật tuyệt, nó bổ đến mức chỉ dành cho người già yếu hay phụ nữ mang thai, còn người khoẻ mạnh mà dùng thì sẽ bị phát ban, lở loét thân thể...

Hổ thì hiếm nhưng chuyện hổ tồn tại trong dân gian nhiều lắm. Trong kho tàng thành ngữ Hán - Việt, ta thấy xuất hiện khá nhiều câu mượn danh con hổ. Người ta mượn hổ để thể hiện phản ánh nhiều chiều, len lỏi vào tận chiều sâu của ngõ ngách xã hội đương thời. Không chỉ thành ngữ mà trong giao tiếp, người ta cũng mượn uy mãnh của hổ để thể hiện. Ví dụ: Hổ trường để chỉ nơi làm việc cơ mật của quân đội ngày xưa; Hổ bảng để chỉ người thi đỗ đại khoa (cả ngạch văn và ngạch võ); Hổ phù để chỉ phù hiệu ấn tín trong quân đội; Hổ tướng chỉ người tướng giỏi; Hổ thị chỉ người có kiểu nhìn hung hãn, tham tàn...

Dân gian quan niệm chữ “dần” nghĩa là con hổ, nhưng thực tế không phải vậy. Tác giả Lý Lạc Nghị  trong sách “ Tìm về cội nguồn chữ Hán” đã giải thích chữ Dần như sau: “Dần là chữ gốc của chữ Dần (nghĩa là sâu). Nghĩa gốc là thâm (sâu). Thời kỳ đầu Giáp cốt văn lấy chữ thỉ (là mũi tên) làm chữ Dần; thời kỳ cuối giữa chữ có thêm hình bộ “khẩu” với nghĩa: mũi tên bắn xuyên qua tấm bia khá sâu. Chữ Dần trong Kim văn xuất hiện hình đôi tay. Về sau thay đổi thêm nhiều. Sách cổ thường mượn để chỉ vị trí thứ ba trong địa chi (như năm Dần)”.

Còn các từ/tự điển Hán - Việt, Việt - Hán đều thống nhất giải thích chữ Dần là ngôi vị thứ ba trong hàng địa chi (12 chi). Ngoài ra, chữ Dần còn để tính thời gian, tháng Giêng là tháng Dần, từ 3 giờ đến 5 giờ sáng là giờ Dần, rồi cứ 12 năm lại có một năm Dần, 12 ngày lại có một ngày Dần v.v...Và không biết từ bao giờ và chưa rõ vì lý do gì đặc biệt mà ngày xưa đã gắn con Hổ vào ngôi vị này. Như thế, chữ Dần không hàm nghĩa là con Hổ. Việc con Hổ có ngôi vị trong địa chi có lẽ được gắn cho nó sau khi xuất hiện lịch can, chi...

Trong dân gian từ cổ xưa, ai cũng hiểu năm Dần là năm con Hổ (người phương Tây gắn với con sư tử) và đồng thời cũng có tháng Hổ, ngày Hổ, giờ Hổ... Thời khắc tiễn đưa năm Kỷ sửu, vui đón Xuân năm Canh dần góp nhặt những thành ngữ Hán Việt mượn danh con Hổ để vui cùng mọi nhà nhân dịp đón chào Xuân mới.

            Bất nhập hổ huyệt, yên đắc hổ tử (Không vào hang hổ, sao bắt được hổ con). Muốn có kết quả, thành đạt trong công việc cần phải xông pha, dũng cảm ở những nơi nguy hiểm, ví như không liều lĩnh dũng cảm vào hang hổ thì sao bắt được hổ con.

Bạo hổ, bằng hà (Tay không bắt hổ, chân đất qua sông). Ám chỉ những người táo tợn, làm những việc liều lĩnh như bắt hổ bằng tay không, qua sông không cần thuyền.

Dưỡng hổ di hoạ (Nuôi hổ để hoạ về sau). Nuôi dưỡng hoặc cứu giúp kẻ xấu, tham bạo thì chúng sẽ gây hoạ, làm hại mình.

Dương chất hổ bì (Da hổ bọc thân dê). Ám chỉ những người có thói xấu, lấy hình thức bề ngoài làm trọng để đánh lừa người đời, thực chất là kẻ kém cỏi, vô dụng.

Đàm hổ biến sắc (Nói chuyện hổ, biến sắc mặt). Câu này ám chỉ những người yếu kém hay che dấu khuyết điểm lỗi lầm khi bị phát hiện, ví như chỉ nghe người ta nói chuyện hổ mà đã lo sợ mà sắc mặt thay đổi.

Điệu hổ ly sơn (Đưa hổ ra khỏi rừng). Câu này bao hàm hai nghĩa cơ bản. Một là tách kẻ mạnh, có năng lực ra khỏi hoàn cảnh có lợi để dễ bề chinh phục hoặc tiêu diệt ví như tìm cách lừa để đưa hổ ra khỏi rừng thì dễ vây bắt, bắn giết. Hai là: đưa kẻ chống đối, ngăn cản công việc của mình đi nơi khác để thực hiện mưu đồ được thông suốt thuận chiều hơn.

Hoạ hổ bất thành hổ (Vẽ con hổ lại không thành con hổ). Muốn nói về những kẻ tham làm việc lớn nhưng tài hèn sức mọn nên không được việc. Cho nên khi làm việc gì cần phải xem xét khả năng của mình trước đã.

 Hoạ hổ bì nan hổ cốt (Vẽ da hổ thì dễ, vẽ xương hổ thì thực khó). Câu này trích trong câu: “Hoạ hổ bì nan hoạ cốt. Tri nhân tri diện bất tri tâm”. Vẽ hổ vẽ da thì dễ, vẽ xương thì khó. Biết người biết mặt nhưng khó biết được lòng dạ của họ.

 Hoạ hổ loại cẩu (Vẽ hổ lại ra hình con chó). Nguyên văn câu này trong Hậu Hán thư là “ Hoạ hổ bất thành phản loại cẩu dã” - Vẽ hổ không thành mà lại thành chó. Ý ám chỉ những người bất tài, vô dụng nhưng ham làm việc lớn chỉ chuốc lấy thất bại mà không hay.

            Hồ giả hổ uy (Cáo mượn oai hổ). Mượn thế kẻ mạnh, có quyền lực để đe nẹt, chèn ép, loè bịp, ức hiếp người khác.

            Hổ cứ long bàn (Rồng cuốn hổ ngồi). Hổ là con vật dũng mãnh, oai phong. Rồng là con vật thiêng, sang quý. Khoa địa lý phong thuỷ mượn danh long - hổ để thể hiện thế đất đẹp, hiểm yếu mà linh thiêng.

            Kỳ hổ nan hạ (Cưỡi hổ khó xuống). Người xưa ám chỉ những người có việc làm liều lĩnh, không tính toán trước sau cho việc bại thành. Ở cái thế gay cấn như cưỡi trên lưng hổ, tiến thì khó mà lùi càng khó khăn nguy hiểm hơn nên đành liều phó mặc cho số phận may rủi.

            Lưỡng hổ tranh đấu (Hai hổ đánh nhau). Hai kẻ mạnh đánh nhau tất sẽ có kẻ thua, không thua thì cả hai cũng bị suy yếu. Đó là mong muốn của kẻ thứ ba yếu kém hơn nhưng biết lựa thời cơ để vươn lên. Câu này còn hàm ý phê phán kẻ cơ hội, khôn lỏi... lợi dụng sự bất hạnh của người khác mà vươn lên.

            Như hổ thiêm dực (Như hổ mọc thêm đôi cánh). Hổ là con vật khoẻ mạnh, hung hãn thì càng mạnh và hung hãn hơn. Ta muốn nói tới người có tài lại được trợ giúp thêm thì càng mau chóng thành đạt. Câu này còn hàm nghĩa nữa là kẻ ác độc, hung bạo mà được tiếp thêm sức mạnh thì chỉ thêm phần tai hoạ cho thiên hạ mà thôi.

            Phóng hổ quy sơn (Thả hổ về rừng). Ý muốn nói sử dụng người hiền tài vào đúng vị trí có nhiều lợi thế thì càng làm tăng thêm sức mạnh, càng phát huy được tài năng gấp bội. Ngoài ý nghĩa trên người xưa còn muốn cảnh giác trong việc dùng nhầm người khi hữu sự với kẻ nham hiểm mà vô tình được tạo điều kiện thuận lợi thì càng có điều kiện cho kẻ đó gây nguy hiểm hơn cho thiên hạ.  Người xưa muốn ám chỉ những việc làm thiếu tính toán chỉ gây thêm hiểm hoạ

            Quân vô tướng như hổ vô đầu (Quân không có tướng như hổ không có đầu). Hổ là vật khoẻ mạnh, hung hãn nhưng là con vật oai vệ, thông minh nên người xưa mượn danh hổ để đề cao tính kỷ luật và vai trò người chỉ huy hay người lãnh đạo ở một lĩnh vực nào đó. Cũng như trong quân đội, nếu không có người cầm quân tài năng thì có khác gì con hổ không có đầu.

            Tiền môn cự hổ, hậu môn tiến lang (Phía trước chống hổ, phía sau rước lang sói). Một câu răn dạy những người cầm quân để phòng nghịch tặc ngấm ngầm phản trắc phá hoại từ bên trong.

            Toạ sơn quan hổ đấu (Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau). Chỉ những người mưu sâu, kế hiểm để mặc hai kẻ khác đánh nhau đến kiệt sức tàn hơi mới nhảy vào can thiệp rồi nhân cơ hội dành chiến thắng cả hai đối phương một cách nhàn nhã.

            Xà cung thạch hổ (Thấy ngỡ rắn, thấy đá ngỡ hổ). Câu này ám chỉ những người sẵn tính đa nghi, quá nhút nhát làm việc gì cũng đề phòng, nghi kị quá đáng cuối cùng chẳng nên công cán gì.

            Yến hàm hổ đầu (Đầu hổ, hàm én). Đầu hổ thì to, hàm én lại rất nhỏ, thế mà gắn với nhau thì thật phi lý. Người xưa mượn hình ảnh đó để chỉ người có tướng mạo kì dị, nhưng còn có ý chê cười những sự khập khiễng, trái khoáy ở đời...

            Trở lại với năm Dần, năm con Hổ. Xưa nay người ta vẫn quan niệm: Người đẻ năm Dần thuận phát mọi bề mà ít gặp tai ách trên đường đời. Người đẻ năm Dần sẽ mang nhiều đặc tính của con hổ dũng mãnh oai phong. Con trai thì tài, con gái thì vừa sắc (đẹp) vừa sảo (giỏi, khéo). Lúc nhỏ bé thì ăn khoẻ chóng lớn dễ nuôi. Lớn lên  sẽ hanh thông trên đường công danh sự nghiệp. Năm nay là năm Canh dần. “Canh biến vi cô”. Cô được quan niệm là đơn độc nhưng là “độc trụ kình thiên”, “anh hùng nhất khoảnh” nên người sinh năm Canh Dần vẫn tài khéo, giỏi giang và có đặc tính quý là: tự lập, tự chủ ./.

Nguyễn Văn Phong

;?>