• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 2354566
  • Số người đang xem: 24
  • Trong ngày: 2064
  • Trong tuần: 14475
  • Trong tháng: 370424
  • Trong năm: 2002343
Trang chủ

Chèo truyền thống ở Bắc Giang

( 19:25 | 03/04/2011 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Ngô Văn Trụ

Bắc Giang có tới trên 500 lễ hội, hội làng, hội vùng và liền vùng. Loại hình văn hóa phi vật thể này đều gắn với văn hóa vật thể là đền, đình, chùa, am miếu... ngoài phần lễ, phần hội bao giờ cũng có các trò chơi dân tộc và bao giờ cũng có hát chèo hoặc hát tuồng. Những phường chèo này hầu hết đều do quần chúng nhân dân tự lập nên. Những diễn viên hầu hết là bán chuyên, vừa làm ruộng, vừa tham gia vào các phường chèo. Thường thì sau vụ gặt, công việc đồng áng nông nhàn, những người yêu thích chèo họ tụ tập nhau lại thành phường, đứng đầu là ông trùm. Ông trùm là người đứng ra tổ chức chung, giúp việc “ông hai” người hiểu biết về nghệ thuật, giúp ông trùm chỉ đạo về nghệ thuật, đạo diễn chương trình, và người thứ ba là “ông thơ” sáng tác viên của phường. Những phường chèo như Bắc Lý (Hiệp Hòa), làng Mai (Việt Yên), làng Hạ (Tân Yên), Đồng Quan (Yên Dũng)... được tổ chức theo phương thức ấy. Phường đi diễn lưu động ở các làng xóm, thôn ấp, đâu có hội là xin đến hát, có khi vượt ra cả tỉnh ngoài, huyện ngoài. Sân khấu là sân đình, trải cặp chiếu, căng dây thừng để ngăn sân khấu diễn làm hai bên, trong là buồng trò, ngoài là sân khấu. Người đứng xem cả ba mặt. Đến cuối thế kỷ XIX, Pháp xâm lược nước ta, giai cấp phong kiến suy tàn thì chèo sân đình không còn đất phát triển như trước và vào khoảng năm 1914 chèo thành thị được mệnh danh là chèo “văn minh” được ra đời, thì ở thị xã Phủ Lạng Thương (thành phố Bắc Giang ngày nay) có nhiều rạp hát xuất hiện.

Từ khi có Đề cương văn hóa Việt Nam ra đời, Đảng ta chú ý đến việc bảo tồn văn hóa dân tộc trong số có chèo. Dưới sánh sáng của Đảng từ năm 1952, Đảng đã đề ra đường lối khai thác vốn cổ. Sau đó đoàn văn công Trung ương ra đời, các đoàn chèo ở các khu vực được thành lập và cũng từ đó các phường chèo ở các làng lại có cơ hội phục hồi. Trong thời gian này ở Bắc Giang đoàn chèo Sông Thương cũng được ra đời vào năm 1959 (tiền thân của đoàn nghệ thuật Chèo ngày nay). Ngày đầu thành lập, nòng cốt vẫn là các bác từ phong trào cơ sở, hạt nhân của các phường chèo làng, xã. Lúc đầu đoàn đã thu hút được 30 diễn viên từ các cơ sở tuyển về. Được Nhà hát Chèo Trung ương về truyền dạy những vai mẫu truyền thống như: Lưu Bình -Dương Lễ, Quan âm Thị Kính, Kim Nham v.v...đồng thời đoàn đã cố gắng dựng những vở chèo ngắn, nội dung mới phục vụ các nhiệm vụ chính trị lúc bấy giờ như “Hương lúa tình quê”. “Tiếng trống hội mùa”, “Chị Thắm anh Hồng”, “Vẹn cả đôi đường”...; khôi phục các vở chèo truyền thống “Súy Vân giả dại”, “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình - Dương Lễ”... Đặc biệt Nhà hát Chèo Trung ương còn truyền dạy những vai mẫu truyền thống cho cả diễn viên, nhạc công. Từ khi Đoàn Chèo Bắc Giang được thành lập từ năm 1959 đến nay, 47 năm xây dựng và trưởng thành, vừa xây dựng đoàn, vừa dàn dựng vở mới, vừa khôi phục dựng vở cũ, vừa xây dựng phong trào, khôi phục các làng chèo cổ, năm 2004 đoàn nghệ thuật chèo Bắc Giang đã được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam trao tặng Huân chương lao động hạng Ba.

Yên Dũng có làng Đồng Quan, xã Đồng Sơn là làng có truyền thống hát chèo từ xa xưa, đến nay đội chèo còn được duy trì , đội có 18 người cả diễn viên và nhạc công do bà Khổng Thị Tiêu phụ trách; Đội chèo làng Đồng Nhân, xã Đồng Phúc vốn là làng chèo truyền thống, có thời gian ngừng hoạt động, sau lại khôi phục cả thế hệ diễn viên và nhạc công. Nay đội có 14 người do ông Nguyễn Khánh Dư làm đội trưởng. Làng chèo Dốc Sở xã Đồng Sơn, nay còn hoạt động, đội có 13 người do ông Nguyễn Văn Dương làm đội trưởng (gia đình ông Dương vốn có truyền thống, nhiều thế hệ nối tiếp tham gia hoạt động và biểu diễn chèo); Làng chèo Tân Ninh xã Tư Mại, đây là làng chèo cổ, đến nay còn duy trì, đội có 20 người do ông Lưu Xuân Đức phụ trách. Từ năm 2004 huyện Yên Dũng còn thành lập các câu lạc bộ chèo như: Câu lạc bộ “Chiếu chèo quê” do ông Nguyễn Văn Đán năm nay 60 tuổi làm chủ nhiệm, CLB có 24 người tập hợp từ các xã trong huyện. Câu lạc bộ “Đàn và hát dân ca” tập hợp những người yêu thích chèo kể cả diễn viên và nhạc công từ nhiều xã. (nay CLB đóng tại tiểu khu I thị trấn Neo có 34 hội viên do ông Nguyễn Văn Bách 74 tuổi làm chủ nhiệm); CLB Đồng Tiến Đức có 50 người là hội viên, CLB thôn Đồng Nhân xã Đồng Phúc do ông Nguyễn Văn Toàn làm chủ nhiệm. Hầu hết các đội chèo và CLB đều duy trì và phát triển đội ngũ nhạc công của dàn nhạc dân tộc.

Huyện Việt Yên: Có các làng chèo cổ và nay còn một số đội được duy trì ở mức độ hát và dựng các tiểu phẩm mới như: Hoàng Mai (xã Hoàng Ninh); làng Mỏ Thổ (xã Minh Đức); Làng Trung Đồng (xã Vân Trung); làng Kiểu (xã Bích Sơn), làng Vân (xã Vân Hà)...

Tân Yên: Làng Dương Lâm (xã An Dương), đội chèo xã Ngọc Châu; làng Hạ (xã Cao Thượng), riêng làng Hạ vẫn là làng chèo truyền thống, đến nay vẫn duy trì và hoạt động. Đội chèo có 30 người cả diễn viên và nhạc công do ông Trọng Nguyên làm đội trưởng.

Lạng Giang: Làng An Lạc (xã Quang Thịnh) do ông Khải làm đội trưởng; làng Then (xã Thái Đào) do ông Nguyễn Văn Khoa làm đội trưởng (đội có 20 người vừa hát chèo, sử dụng nhạc cụ dân tộc, vừa có dàn nhạc viôlông); làng Liên Sơn (xã Tân Dĩnh) do bà Ngô Thị Liên 70 tuổi làm đội trưởng; và làng Chuông Vàng (xã Tân Hưng). Ở Lạng Giang còn duy trì hát chèo là chủ yếu, ít dựng các trích đoạn truyền thống. Tuy vậy còn giữ được dàn nhạc dân tộc khá phong phú.

Ngoài ra các huyện khác còn duy trì phong trào hát chèo như Hiệp Hòa, Yên Thế, Lục Ngạn... riêng ở Lục Nam tuy ít làng chèo truyền thống nhưng phong trào hát chèo mới phát triển rất mạnh. Trong 4 năm từ 2001 đến 2004, huyện đã mở được nhiều lớp chèo cho các làng văn hóa, mỗi lớp có từ 40 đến 78 học sinh. Các làng có đội chèo như: Bảo Đài, Nghĩa Phương, Đồi Ngô, Đồng Phúc. Riêng ở làng Phương Lạn (Nghĩa Phương) có đội chèo truyền thống, vào những năm 60 đội đã dựng các trích đoạn cổ và vở chèo “Sóng Sông Lục” đã đi biểu diễn khắp vùng trong huyện. Nay đội còn được duy trì, dàn nhạc dân tộc có 7 cây. Bà Chinh 68 tuổi làm đội trưởng; đội chèo làng Va Khê (xã Đồng Phúc), đặc biệt đội chèo xã Huyền Sơn đã dựng nhiều trích đoạn: “Tuần Ti Đào Huế”, “Thị Mầu”, “Đường về trận địa”... do Hoàng Anh Trấn vừa làm đội trưởng vừa là đạo diễn.

Một số suy nghĩ và đề xuất:

1- Truyền thống hát chèo ở Bắc Giang có từ lâu đời và tồn tại ở nhiều địa phương trong tỉnh. Hát chèo gắn với nhiều sinh hoạt văn hóa- nghệ thuật dân gian ở các làng xã như tế lễ, hội lệ, đình đám ... Nhiều đội chèo đã hoạt động dưới dạng chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp.

2- Trải qua trường kỳ lịch sử và những biến cố của xã hội, hát chèo có bị mai một, và có nguy cơ bị mất như giai đoạn thực dân Pháp xâm lược. Chèo được khôi phục theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng vào những năm sau cách mạng. Song cũng có nhiều chìm nổi và có lúc vốn chèo truyền thống bị lắng xuống và thay vào là nội dung mới, hình thức cũ.

3- Thực hiện đường lối, chính sách của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Giang đã thực hiện các chương trình - đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, trong đó có nội dung điều tra, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát triển nghệ thuật chèo như: điều tra, nghiên cứu, mở lớp bồi dưỡng hạt nhân; đưa chèo vào sân khấu học đường; khôi phục các làng chèo cổ; thành lập các Câu lạc bộ hát chèo; tổ chức các cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn... Đặc biệt chú trọng tới các nghệ nhân, duy trì và phát triển các dàn nhạc dân tộc ở các làng chèo, chú ý bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tiếp nhau.

;?>